| |
|
|
Phỏng Vấn Nguyễn Thị Minh Ngọc
Đỗ Lê Anh Đào thực hiện
Nguyễn Thị Minh Ngọc là một nhà văn, nhà soạn kịch, viết kịch bản phim, và nhà giáo. Cô tốt nghiệp đạo diễn sân khấu, đào tạo diễn viên tại trường Sân Khấu & Điện Ảnh Thành Phố Hồ Chí Minh và Nhà Hát Trần Hữu Trang, dạy Biên Kịch, Lý Luận Kịch và Lịch Sử Sân Khấu Việt Nam tại một số trường Cao Đẳng và Đại Học. Cùng với bút danh Ngọc Minh, cô đã đồng sáng lập CLB Đạo Diễn Thể Nghiệm (1985), dựng khoảng 30 vở truyền thống và đương đại, viết khoảng 70 vở truyền thống và đương đại cho sân khấu và khoảng 30 kịch bản cho điện ảnh, hàng trăm tập phim cho truyền hình, vài công trình nghiên cứu về sân khấu và cải lương. Nguyễn Thị Minh Ngọc đã dự nhiều liên hoan, hội thảo, sáng tác và nghiên cứu về sân khấu và giáo dục trong nước cùng các nước Úc, Anh, Pháp, Đức, Tanzania, Na Uy, Thụy Điển, Philippines, Mỹ, Indonesia. Năm 2004, Truyền hình Việt Nam đã bình chọn cô là nhân vật sân khấu. Cô đã giải thích lý do cô cầm bút vì cô muốn cố gắng viết để nói giúp những người (đồng thời cũng là cho cô) không có điều kiện để nói được, và viết sao cho những người đời sau có dịp đọc lại sẽ không hiểu sai lệch lắm về thời đại mình đang sống. Nhân dịp Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Năm 2007, Nguyễn Thị Minh Ngọc chia sẻ với độc giả về bộ phim Sống Trong Sợ Hãi, phim cô đã đồng viết kịch bản và sẽ được trình chiếu ở đại hội năm nay.
AD: Chị thích những điểm gì về công việc làm phim? Từ lúc nào và tại sao chị bắt đầu viết kịch bản phim?
NTMN: Khi được xem nụ cười đẫm nước mắt của Anthony Quinn trước đàn con nhiều màu da dù anh bị bắt trong ngày cưới chưa kịp động phòng, trong film Giờ thứ Hai Mươi Lăm chuyển từ truyện cùng tên của C.Virgil Gheorghiu, tôi thấy điện ảnh có cách riêng để thể hiện phận người mà các loại hình nghệ thuật khác không nói hết và phổ biến rộng bằng. Năm 1975, khi còn là sinh viên phân khoa Đạo Diễn Phim của đại học Tri Hành tại Sài Gòn, tôi đã tập viết kịch bản phim khi học với các thầy Vũ Khắc Khoan, Đặng Trần Thức, Phú Hữu…. Sau nầy tôi biết, một người bạn cùng lớp của tôi đã không dám ghi tên trường đó vào lý lịch.
AD: Xin chị cho độc giả một tóm tắt của Sống Trong Sợ Hãi?
NTMN: Một người lính Việt Nam Cọng Hòa sau khi đi cải tạo về, đối mặt khó khăn thời hậu chiến lại đa mang hai vợ khiến anh phải đi tìm sự sống trong đất của tử thần là một bãi mìn. Cốt truyện dựa trên đời thật của anh Ngô Đức Nhật. Anh đã tháo được khoảng 2000 trái mìn, trong lúc đội gỡ mìn chuyên nghiệp hơn có người đã bỏ mạng ngay đó. Anh vừa mất xong, sau khi nhận giấy chứng nhận sở hữu khoảng đất chết đó. Trong trang web chính thức của Đại Hội Điện Ảnh ở Thượng Hải-2006 có ghi: Sống Trong Sợ Hãi đã khắc hoạ chân dung những vết thương để lại sau chiến tranh trong cuộc sống thường nhật của những người Việt Nam, cuộc sống đó chứa những áp lực khó nói và những mối âu lo.
AD: Sống Trong Sợ Hãi là một sự cộng tác giữa chị và đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, xin chị cho độc giả biết làm sao mà chị và anh Bùi Thạc Chuyên bắt đầu làm việc chung? Trải qua quá trình nào mà anh chị quyết định về cốt truyện của bộ phim này?
NTMN: Cùng tham gia chương trình Cửa Sổ Nhìn Ra Châu Á với anh Chuyên, được xem phim video Tay Đào Đất (2005) bằng thể loại phim tài liệu, tôi đã rất thích nhân vật nầy. Khi anh Chuyên có ý định chuyển qua làm phim truyện, anh được đạo diễn Trần Mỹ Hà giới thiệu tôi cùng viết.
AD: Chị muốn gửi đến khán giả của Sống Trong Sợ Hãi những thông điệp nào?
NTMN: Trong tên phim đã có sẵn thông điệp đó: Dù Sợ Hãi đến đâu thì khi là Con Người, cũng phải có Quyền được Sống. Anh Chuyên thích cái tựa “Từ Dưới Lên, Từ Trên Xuống” hơn. Đó là những từ diễn tả kỹ thuật moi những quả mìn ra từ đất.
AD: Bộ phim được dựng lên trong hoàn cảnh một vài tháng sau nội chiến Việt Nam chấm dứt. Nhưng khác với những nhà làm phim trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, Sống Trong Sợ Hãi kể về đời sống của những người ở lại Việt Nam. Có phải quyết định này của chị được ảnh hưởng từ kinh nghiệm của một người sống ở Việt Nam một thời gian rất lâu sau chiến tranh chấm dứt?
NTMN: Tôi tin người Việt sống ở đâu cũng không ai muốn sống nghèo, sống khổ, sống trong sự dốt nát, mất tự do. Theo thời gian và với nhiều nỗ lực, thiện chí của nhiều người, tôi tin là Sự Thật cùng với Điều Thiện và Vẻ Đẹp sâu sắc của dân Việt sẽ có điều kiện tỏa sáng như nó đã và vẫn đang hiện hữu. Xem vài tác phẩm của tôi, có người thấy chữ Nhẫn khá đậm. Đó cũng là chữ mà những người nước ngoài khi đến Việt Nam vẫn dặn nhau phải học, đặc biệt trong những hợp tác về văn hóa.
AD: Một trong những khía cạnh rất tuyệt vời của Sống Trong Sợ Hãi là sự miêu tả một chân dung vô cùng đẹp nhưng cùng rất thảm thương của miền quê Việt Nam. Tại sao chị quyết định dùng nông thôn Việt Nam để làm bối cảnh cho phim thay vì thành thị Việt Nam?
NTMN: Cám ơn Anh Đào về cảm nhận một chân dung vô cùng đẹp nhưng cũng rất thảm thương của miền quê Việt Nam. Khi dựng vở hát bội về Thiên Hộ Võ Duy Dương, tôi được biết có những làng quê vùng Mê Kông bị Pháp giết sạch vì dân cũng là nghĩa quân. Đó là những người không tên tuổi; và hiện nay con cháu họ không được chăm sóc thỏa đáng về giáo dục, kiến thức, môi trường.. Ai sẽ nói cho họ về những bất công qua khá nhiều kiếp nầy? Được đi nhiều về nông thôn miền Nam và Trung, tôi thấy những gì mình làm được quá sức là bé nhỏ.
AD: Là một nhà văn, một phần lớn văn chương của chị viết về khía cạnh phụ nữ, thí dụ như bài đọc của chị ở Women Playwrights International, Ta Tìm Tiếng Ta: Nói Cùng Tiếng Qua Mẫu Tính. Sống Trong Sự Hãi theo dõi thân phận của một người đàn ông hai vợ bởi vì tình cảnh chiến tranh. Chị cho độc giả biết thêm về khía cạnh này của bộ phim được không? Chị có gửi thông điệp gì về số phận phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh không?
NTMN: Kịch bản nầy được chỉnh sửa có đến chục lần. Một trong những lần chỉnh đó, có lúc cô cán bộ cũng cùng đi sanh luôn vì là gì đi nữa thì cô cũng là phụ nữ, cũng phải sanh đẻ như ai. Dù chiến tranh hay hoà bình, Đông hay Tây, Kim hay Cổ thì những người đàn ông đều do các phụ nữ sanh ra. Có lẽ phải nhắc lại chữ Nhẫn khi nói về số phận những phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Thời chiến, nhiều người còn phải sử dụng một loại vũ khí mà đàn ông khó có được là Nhan Sắc. Tôi đã gặp nhiều phụ nữ có những đóng góp lớn trong thời chiến bằng loại vũ khí này nhưng lại rất hẩm hiu, cô độc trong thời hậu chiến. Vì bạn đã nhắc bài đọc kia, có lẽ nên mượn ý cuối của bài đó để kết cuộc trò chuyện này. Câu cuối mà chúng tôi, những phụ nữ sáng tạo, luôn muốn gửi tới những người gây khó cho chúng tôi trong việc hoài thai và phổ biến tác phẩm, chính là câu mà người mẹ đã hỏi con sau khi móc trái tim đầy máu lệ của mình ra cho con làm món quà tình yêu: Con có đau không con? |
|
|
|
|
|
|
|
|
|